Hiển thị các bài đăng có nhãn Đường lối cm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đường lối cm. Hiển thị tất cả bài đăng

8 tháng 5, 2011

39. Phương châm đối ngoại của đảng ta hiện nay?

Phương châm đối ngoại của Đảng ta trong thời kì đổi mới đến nay được chia làm 2 giai đoạn. Trong mỗi giai đoạn, Đảng và nhà nước ta dựa và những điều kiện và tình hình cụ thể trong nước để đề ra các phương châm cụ thể.
Giai đoạn 1986-1996: Lúc này phương châm đối ngoại của chúng ta là độc lập, tự chủ, rộng mở, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ quốc tê. (phân tích)
Giai đoạn 1996- nay bổ sung và phát triển đường lối đối ngoại theo phương châm chủ động tích cực hội nhập kinh tế. (phân tích)
Đánh giá: đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá quan hệ quốc tế được xác lập trong 10 năm đầu của thời kì đổi mới đến nay đã đựoc bổ sung và phát triển theo phương châm chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, hình thành đường lối dối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình hợp tác và pháy triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế thể hiện sự lãnh đạo chủ động, nhạy bén và phù hợp với từng thời kì khác nhau. Chính đièu này không ngừng phát huy tính tích cực và đem lại thành công cho nước ta sau hơn 2o năm đổi mới…

38. những thuận lợi, khó khăn trong hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay?

Thuận lợi:
Thứ nhất, Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế sẽ khắc phục được tình trạng bị phân biệt đối xử trong buôn bán quốc tế. Ví dụ như sự đối xử tối huệ quốc (MFN) không điều kiện, thuế quan thấp cho hàng xuất khẩu của Việt Nam, thúc đẩy việc thâm nhập thị trường cho hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam, cải thiện cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại với các nước, sự đối xử theo hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập và củng cố cải cách kinh tế Việt Nam. Đặc biệt, các Hiệp định của Vòng đàm phán Uruguay đã đem lại cho Việt Nam các lợi ích như: Đẩy mạnh thương mại và quan hệ của Việt Nam với các thành viên khác trong WTO và đảm bảo nâng cao vai trò quan trọng của Việt Nam trong các hoạt động kinh tế và chính trị toàn cầu như là một thành viên của WTO.
Thứ hai, hội nhập kinh tế quốc tế sẽ tạo điều kiện mở rộng thị phần quốc tế cho các sản phẩm Việt Nam và thúc đẩy thương mại phát triển. Việt Nam sẽ có cơ hội xuất khẩu những mặt hàng tiềm năng ra thế giới nhờ được hưởng những thành quả của các vòng đàm phán giảm thuế và hàng rào phi thuế, tăng cường tiếp cận thị trường của WTO, đặc biệt trong các lĩnh vực hàng dệt may và nông sản. Cơ hội xuất khẩu bình đẳng sẽ có những ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của các doanh nghiệp trong nước, sản xuất sẽ được mở rộng và tạo nhiều công ăn việc làm cho người lao động. Việc bãi bỏ Hiệp định đa biên (MFA) về hàng dệt sẽ tạo điều kiện cho xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam. Các nhà xuất khẩu Dệt  -May Việt Nam sẽ được đảm bảo trong vòng 10 năm sau khi trở thành thành viên của WTO, đồng thời, các nước nhập khẩu sẽ không có các hạn chế MFA đối với hàng dệt may của Việt Nam. Đối với các mặt hàng nông sản, là nước xuất khẩu gạo đứng thứ 3 trên thế giới, Việt Nam sẽ có nhiều thị trường xuất khẩu mặt hàng này hơn vì hạn ngạch nhập khẩu gạo và các nông sản khác sẽ được thay thế bằng thuế và thuế sẽ phải được cắt giảm theo Lộ trình quy định của WTO. Việt Nam có lợi nhiều khi các thị trường gạo mở cửa, đặc biệt là các thị trường Nhật Bản và Hàn Quốc. So với các nước đang phát triển khác, Việt Nam sẽ có lợi hơn từ các Hiệp định của Vòng Uruguay vì theo quy định của WTO, hàng xuất khẩu dưới dạng sơ chế của các nước đang phát triển sang các nước phát triển thường không phải chịu thuế hoặc thuế thấp. Việt Nam là nước xuất khẩu nhiều hàng sơ chế, sẽ rất có lợi từ quy định này.
Bên cạnh việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa trong nước, Việt Nam còn tận dụng được cơ hội từ nhập khẩu như lựa chọn nhập các loại hàng hóa có kỹ thuật cao, công nghệ tiên tiến để nhanh chóng phát triển các ngành có công nghệ cao, ngành mũi nhọn, nhanh chóng đuổi kịp các nước phát triển trên thế giới.
Thứ ba, Việt Nam sẽ có lợi từ việc cải thiện hệ thống giải quyết tranh chấp khi có quan hệ với các cường quốc thương mại chính. Việc tham gia WTO sẽ cho phép Việt Nam cải thiện vị trí của mình trong các cuộc đàm phán thương mại, có điều kiện tiếp cận các quy tắc công bằng và hiệu quả để giải quyết các tranh chấp thương mại. Những nguyên tắc của WTO đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam cũng sẽ có lợi vì sẽ nhận được một số ưu đãi đặc biệt như được miễn trừ sự ngăn cấm trợ cấp xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu hàng hóa thuộc loại cạnh tranh, sự miễn trừ này sẽ bị loại bỏ trong thời gian 8 năm.
Thứ tư, Việt Nam sẽ có lợi gián tiếp từ yêu cầu của WTO về việc cải cách hệ thống ngoại thương, bảo đảm tính thống nhất của các chính sách thương mại và các bộ luật của Việt Nam cho phù hợp với hệ thống thương mại quốc tế. Các quy định của WTO sẽ loại bỏ dần những bất hợp lý thương mại, thúc đẩy cải thiện hệ thống kinh tế và đẩy nhanh quá trình chuyển đổi từ hệ thống kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường.   
Thứ năm, Việt Nam sẽ có điều kiện thu hút vốn, kinh nghiệm quản lý và công nghệ mới… của nước ngoài. Trong những năm qua, khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực sự đã trở thành một trong những động lực tăng trưởng sản xuất công nghiệp Việt Nam. Đầu tư nước ngoài đã tác động mạnh mẽ tới tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, chiếm gần 30% vốn đầu tư xã hội, 35% giá trị sản xuất công nghiệp, 20% xuất khẩu và giải quyết việc làm cho hàng vạn lao động.  Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đã góp phần chủ yếu vào việc chuyển giao công nghệ, đầu tư nghiên cứu và phát triển ở Việt Nam trong những năm qua. Sự xuất hiện của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng có tác động tích cực như: tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà quản lý doanh nghiệp trong nước học hỏi thêm về cách thức quản lý sản xuất, tiếp thị, tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm, phục vụ khách hàng…
Sáu là, nâng cao khả năng cạnh tranh và tính hiệu quả trong nền kinh tế, đồng thời tạo ra môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các doanh nghiệp Việt Nam. Tự do hóa thương mại của WTO sẽ tạo điều kiện cho hàng hóa của các nước thành viên dễ dàng thâm nhập vào thị trường Việt Nam. Điều này gây sức ép buộc các doanh nghiệp Việt Nam phải chấp nhận mức độ cạnh tranh khốc liệt, làm cho họ trở nên năng động hơn trong việc tạo sản phẩm mới, cải tiến các dịch vụ, hạ giá thành sản phẩm…
Khó khăn:
Một là, cạnh tranh trở nên quyết liệt hơn. Cạnh tranh không chỉ giữa doanh nghiệp nước ta với doanh nghiệp các nước trên thị trường nước ngoài để xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ mà cạnh tranh ngay trên thị trường trong nước. Điều đó gây sức ép không nhỏ đối với nhiều doanh nghiệp, nhất là những doanh nghiệp đã quen với sự trợ giúp của Nhà nước, những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và công nghệ yếu kém mà tình trạng này lại khá phổ biến ở doanh nghiệp nước ta.
Hai là, hội nhập kinh tế quốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình tái sản xuất hàng hóa và dịch vụtiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội. Thách thức ở đây là đề ra được những chính sách đúng đắn nhằm tăng cường khả năng kiểm soát vĩ mô, nâng cao tính năng động và khả năng thích ứng nhanh của toàn bộ nền kinh tế, củng cố và tăng cường các giải pháp an sinh xã hội để khắc phục những khó khăn ngắn hạn. Tóm lại, phải tạo dựng được môi trường để quá trình chuyển dịch cơ cấu và bố trí lại nguồn lực diễn ra một cách suôn sẻ, với chi phí thấp.
Ba là, hội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách cho việc bổ sung và hoàn thiện thể chế. Trong thời gian qua, mặc dù đã có nhiều nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật có liên quan đến kinh tế và thương mại nhưng chúng ta vẫn còn rất nhiều việc phải làm. Trước hết, phải liên tục hoàn thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư và phát huy mọi tiềm lực của tất cả các thành phần kinh tế. Đồng thời không ngừng hoàn thiện các quy định về cạnh tranh để bảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hộp nhập.
Bốn là, hội nhập kinh tế quốc tế cũng đã làm bộc lộ nhiều bất cập của nền hành chính quốc gia. Do một trong những nguyên tắc chủ đạo của WTO là minh bạch hóa nên khi gia nhập WTO, nền hành chính quốc gia chắc chắn sẽ phải có sự thay đổi theo hướng công khai hơn, minh bạch hơn và hiệu quả hơn. Đó phải là nền hành chính vì quyền lợi chính đáng của mọi người dân, trong đó có doanh nghiệp và doanh nhân, lấy người dân, doanh nghiệp, doanh nhân làm trọng tâm phục vụ, khăc phục mọi biểu hiện trì trệ, thờ ơ và vô trách nhiệm. Nếu không tạo ra được một nền hành chính như vậy thì chẳng những không tận dụng được các cơ hội do hội nhập kinh tế nói chung và việc gia nhập WTO nói riêng đem lại mà cũng không chống được tham nhũng, lãng phí nguồn lực.
Năm là, để bảo đảm tiến trình hội nhập đạt hiệu quả, bên cạnh quyết tâm về chủ trươn, cần phải có một đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước và đội ngũ doanh nhân đủ mạnh. Đây cũng là một thách thức to lớn đối với Việt Nam do phần đông cán bộ của ta còn bị hạn chế về kinh nghiệm điều hành nền kinh tế mở, có sự tham gia của yếu tố nước ngoài. Nếu không có sự chuẩn bị phù hợp, thách thức này sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phục.
Sáu là, hội nhập kinh tế quốc tế dẫn đến sự hợp tác về an ninh và văn hóa. Đồng thời, việc mở cửa thị trường, mở rộng giao lưu trong điều kiện bùng nổ thông tin hiện nay, bên cạnh nhiều mặt tốt, những cái xấu cũng du nhập vào, đòi hỏi các cấp lãnh đạo, quản lý và mọi người dân phải nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc nhằm nâng cao sức đề kháng, chống lại sự tha hóa, biến chất, chống lại lối sống hưởng thụ, tự do tư sản…

36. Những thuận lợi, khó khăn trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta hiện nay.

Công bằng và tiến bộ xã hội trong điều kiện ngày nay, được hiểu là mọi người đều được tiếp cận công bằng các cơ hội phát triển, các nguồn lực phát triển; mọi người đều có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản về thông tin, giáo dục, y tế, việc làm… Do vậy, cần có những chính sách đồng bộ trong việc hình thành cơ cấu kinh tế cũng như trong cơ chế quản lý; bảo đảm sự công bằng trong lĩnh vực kinh tế đến công bằng trong các lĩnh vực chính trị, pháp lý, văn hóa, xã hội; từ khâu sản xuất, kinh doanh cho đến khâu phân phối, không chỉ coi đây là vấn đề thuộc khâu phân phối. hiện nay việc thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội chúng ta còn gặp một số khó khăn sau:
Một là, Chênh lệch giàu nghèo quá lớn.
Chênh lệch giàu nghèo là biểu hiện rõ nhất của bất công xã hội, nếu khoảng cách chênh lệch này ngày càng giãn ra trong khi kinh tế đất nước vẫn có tốc độ tăng trưởng khá, song mức độ cải thiện thu nhập của lớp người nghèo không được bao nhiêu, thì đây là một vấn đề rất đáng được báo động. Ở Việt Nam, vấn đề còn quan trọng và gay gắt hơn nhiều chính là chênh lệch về thu nhập và chi tiêu giữa nông thôn và thành thị. Theo số liệu thống kê năm 2004, thu nhập bình quân đầu người một tháng (theo giá thực tế) của dân thành thị là 815.400 đồng, còn của dân nông thôn là 378.100 đồng; riêng vùng Tây Bắc là thấp nhất, chỉ có 265.700 đồng. Chi tiêu cho đời sống bình quân đầu người một tháng (theo giá thực tế) của thành thị là 594.500 đồng, còn của nông thôn là 283.500 đồng. Cũng có nghĩa là về thu nhập cũng như chi tiêu, thành thị đều gấp hơn hai lần so với nông thôn. Nhưng đó cũng chỉ là những con số đã được “bình quân hóa”, trong thực tế, khoảng cách giàu nghèo còn nặng nề và đau xót hơn rất nhiều. Nhiều vùng nông thôn miền núi còn thiếu lương thực, hoặc chỉ có bắp không có gạo, thiếu nước sinh hoạt, thiếu các dịch vụ công cộng tối thiểu.
Hai là, tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm quá lớn đã gây rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện tiến bộ và công bằng ở nước ta hiện nay.
Đáng quan tâm nhất là ở nông thôn, nạn thiếu việc làm đang rất nghiêm trọng, không chỉ trong những tháng nông nhàn, mà ngày càng nghiêm trọng tại những vùng đất đai chuyển sang công nghiệp hoặc dịch vụ, người dân sau khi nhận được một số tiền đền bù ít ỏi đã trở nên trắng tay, không nghề nghiệp, buộc phải di chuyển ra thành thị. Cái nghèo bám theo họ từ nông thôn ra thành thị, làm tăng thêm số người nghèo vốn đã khá đông ở thành thị. Hàng chục vạn phụ nữ nông thôn phải đi kiếm sống ở xứ người mong có tiền gửi về nuôi sống gia đình.
Ba là, sự chênh lệch về tri thức quá lớn.
Nhưng người nghèo ở nước ta hiện nay không chỉ nghèo về kinh tế mà còn nghèo về kiến thức và quá yếu thế trong việc bảo đảm các nhu cầu về y tế. Nhiều bài viết trên báo chí gần đây đã cho thấy nông dân đang là tầng lớp chịu nhiều bất công vì được hưởng ít nhất thành quả của công cuộc đổi mới.
Ngoài ra, đất nước trải dài theo đường vĩ tuyến, tính chất địa lí phức tạp, nhiều dân tộc và tôn giáo khác nhau vì vậy thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội vẫn gặp không ít khó khăn. (Tự phân tích)

35. Đặc điểm của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đây là đặc điểm rất quan trọng mà nhà nước pháp quyền tư sản không thể có được. Thực chất đặc điểm này của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm bảo đảm tính giai cấp, tính nhân dân của Nhà nước ta. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và do nhân dân định đoạt, nhân dân quyết định phương thức tổ chức, xây dựng và vận hành của bộ máy quyền lực nhà nước nhằm đáp ứng ngày càng cao lợi ích của nhân dân và của toàn bộ dân tộc. Đây còn là sự thể hiện về tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa so với các chế độ khác.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan chức năng của nhà nước để thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là phương thức tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước rất mới mẻ, chúng ta phải lấy hiệu quả thực tiễn để kiểm nghiệm. Về nguyên tắc, chúng ta không thừa nhận học thuyết "tam quyền phân lập" vì nó máy móc, khô cứng theo kiểu các quyền hoàn toàn độc lập, không có sự phối hợp, thậm chí đi đến đối lập, hạn chế sức mạnh của cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể trở lại với nguyên tắc tập quyền, tức là tập trung toàn bộ quyền lực cao nhất của nhà nước lập pháp, hành pháp và tư pháp cho một cá nhân, hoặc một cơ quan tổ chức nhà nước. Bởi vì, làm như vậy là đi ngược lại lịch sử tiến bộ của nhân loại.
Vấn đề đặt ra yêu cầu chúng ta phải nghiên cứu giải quyết đó là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam phải có sự phân công, phân định thẩm quyền cho rõ ràng, minh bạch để thực hiện có hiệu quả với chất lượng cao ba quyền, tránh tình trạng chồng chéo, tùy tiện, lạm quyền...
Nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở HP, PL và đảm bảo cho HP và các đạo luật giữ vị trí tối thượng
Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nâng cao trách nhiệm pháp lý giữa Nhà nước và công dân, thực hành dân chủ, đồng thời tăng cường kỷ cương, kỷ luật
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN do một Đảng duy nhất lãnh đạo, có sự giám sát của nhân dân, sự phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức thành viên của Mặt trận. 

34. Những giải pháp để hạn chế sự phân hóa giàu nghèo ở nước ta hiện nay ?

Để giải pháp vấn đề phân hoá giàu nghèo (PHGN) thì trước hết chúng ta phải giảm tỷ lệ đói nghèo, và giảm bất bình đẳng xã hội thì mới có khả năng thu hẹp sự chênh lệch giữa giàu và nghèo. Muốn vậy trước hết chúng ta phải rút những bài học từ một số nước trên thế giới.
Đảng và nhà nước ta đã áp dụng một số chính sách nhằm hạn chế sự phân hoá giàu nghèo, nâng coa đời sống của người dân, xoá đói giảm nghèo. Nhưng nó chỉ mang tính cấp bách, tạm thời. Việc xây dựng đất nước theo con đường XHCN là một chặng đường rất khó khăn, gian khổ và cần rất nhiều thời gian vì vậy chúng ta phải có những chính sách mang tính chiến lược về lâu dài, đó chính là ổn định kinh tế chính trị xã hội. 
1.1.Những giải pháp cơ bản, lâu dài nhằm hạn chế sự PHGN
*Giải pháp chính trị.
Theo cuốn "Kinh tế học phát triển" và qua nghiên cứu thực trạng xu hướng phát triển của PHGN ở nước ta trong quá trình chuyển đổi phát triển nền KTTT những năm gần đây cho thấy để điều tiết quá trình này theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng XHCN, cần phải tiến hành đồng thời và biết kết hợp chặt chẽ giữa các giải pháp về mặt kinh tế, chính trị, văn hoá – xã hội... Trong đó giải pháp chính trị có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết vấn đề PHGN.
Chính thực tiễn chính trị Việt Nam và trình độ phát triển xã hội Việt Nam trong điều kiện quá độ lên CNXH nói chung. Thực tiễn giải quyết sự PHGN từ đổi mới tới nay nói riêng đã khẳng định vị trí, vai trò to lớn của giải pháp chính trị và đòi hỏi phải nhận thức ngày càng sâu sắc hơn bản chất của chính trị cũng như vai trò của định hướg chính trị trong quá trình giải quyết sự PHGN trước mắt cũng như lâu dài ở nước ta.
Thực chất của giải pháp chính trị đó là tạo ra môi trường chính trị ổn định để phát triển và tăng trưởng kinh tế, đồng thời thực hiện công bằng xã hội, xây dựng nền dân chủ XHCN, tức là tạo môi trường dân chủ, công bằng cho nhân dân lao động, trong đó có người nghèo, để họ..... nhóm đối tượng trở thành chủ thể có vị trí trong xã hội. Đồng thời phát huy tính tích cực của người lao động nói chung, người nghèo nói riêng vượt qua đói nghèo, vươn lên làm giàu một cách chính đáng cho bản than và hoà vào sự phát triển chung của toàn xã hội. Chính môi trường dân chủ, công bằng là đảm bảo chắc chắn nhất cho các quyền cơ bản của công dân: Dân sinh, dân trí, dân quyền... Trên cơ sở đó tạo nên sự  đồng thuận xã hội làm nền tảng cho khối đại đoàn kết dân tộc.
Để thực hiện vai trò, giải pháp chính trị trong việc giải quyết sự PHGN cần hướng vào một số nhiệm vụ chính sau:
- Thứ nhất: Giữ vững ổn định chính trị để tăng trưởng và phát triển kinh tế một cách bền vững, nhanh chóng của đất nước vượt qua "ngưỡng" nghèo.
- Thứ hai: Thực hiện công bằng và dân chủ, tạo động lực thúc đẩy quá trình giải quyết sự PHGN ở nước ta hiện nay.
Như vậy, để vững vàng, ổn định về chính trị chúng ta cần phải xây dựng hệ thống chính trị nhằm đảm bảo mục tiêu dân chủ, đảm bảo cho người dân có môi trường ổn định tự do phát triển nhưng bên cạnh đó muốn giải quyết được sự phân hoá giàu nghèo ta cũng cần phải có giải pháp về kinh tế -  xã hội.
* Giải pháp kinh tế - xã hội.
Những giải pháp kinh tế - xã hội cần phải bảo đảm: Một mặt thúc đẩy tăng truởng kinh tế, tạo cơ sở vật chất thực hiện các chính sách hội nói chung, mặt khác giải quyết hài hoà lợi ích giữa các giai tầng, tầng lớp trong xã hội... sao cho xây dựng đất nước vững mạnh theo con đường lối XHCN đã chọn. Vậy những giải pháp đó là:
-Phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH nhằm đảm bảo sự tăng trưởng ổn định của nền kinh tế quốc dân và là cơ sở quyết định nhất để giải quyết sự PHGN nói chung, xoá đói giảm nghèo nói riêng.
+  Phát triển và chuyển dịch có cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng CNH, HĐH.
+ Lựa chọn công nghệ hợp lý đối với nông nghiệp – nông thôn.
+ Điều chỉnh các chính sách ruộng đất.
+ Tăng cường đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn bằng mọi nguồn vốn.
+  Giải quyết "đầu ra" cho nông sản hang hoá để đẩy mạnh sản xuất hang hoá nói chung, sản xuất hang hoá nông phẩm nói riêng.
- Nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý kinh tế - xã hội của Nhà Nước trước xu hướng PHGN ở nước ta hiện nay.
+ Tạo môi trường kinh tế -  xã hội và khuôn khổ pháp lý ổn định, an toàn cho các hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện giúp đỡ các thành phần kinh tế.
+ Phát huy tích cực của KTTT bằng cách duy trì và phát triển quan hệ thị trường, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh, tạo động lực cuốn hút mọi người vào phát triển kinh tế xã hội.
+  Điều tiết lợi ích giữa các thành phần kinh tế, thực hiện công bằng xã hội.
+ Tiến hành cải cách ruộng đất, tạo điều kiện cho người nghèo được vay lãi theo lãi suất ưu đãi, đánh thuế luỹ tiến vào người có thu nhập cao, nhằm hạn chế sự phân biệt giàu nghèo và thực hiện xoá đói giảm nghèo.
* Giải pháp văn hoá.
Thu hẹp khoảng cách đời sống văn hoá giữa thành thị và nông thôn. Do tình trạng đời sống vật chất khó khăn, thiếu thốn... làm cho một số người ở nông thôn chán nản, bế tắc muốn rời làng quê ra thành thị kiếm sống. Vì vậy cần phải phát triển đời sống văn hóa tinh thần ở nông thôn để thu hẹp khoảng cách văn hoá giữa nông thôn và thành thị.
Nâng cao trình độ dân trí của nhân dân. ở nước ta, phát triển giáo dục nâng cao dân trí trước hết phải xoá mù, tái mù, thực hiện phổ cập giáo dục, đưa lại cho người nghèo quyền "sở hữu trí tuệ".
Bên cạnh đó cũng phải đầu tư một bộ phận có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm đào tạo nhân tài cho đất nước, tạo ưu thế vượt trội, tạo động lực thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội. Tăng cường giáo dục văn hoá pháp luật và văn hoá dân chủ cho người dân để mọi người có ý thức hơn trong thời đại Việt Nam hòa nhập với cộng đồng quốc tế. 
1.2. Những giải pháp cấp bách nhằm hạn chế sự PHGN.
* Điều tiết tăng thu nhập cho tầng lớp nghèo:
Nhà nước dung tiền ngân sách để hỗ trợ cho người nghèo, những người gặp rủi ro, khuyết tật... thông qua các chương trình kinh tế - xã hội, các quỹ trợ cấp quốc gia, trợ cấp, tín dụng, ưu đãi... Ngoài ra còn các cuộc vận động đóng góp vào quỹ xoá đói giảm nghèo, giúp đỡ vùng thiên tai... Nhà nước còn tăng cường các dịch vụ công như dự án y tế công cộng, bệnh viện miễn phí cho người nghèo, chương trình nước sạch, chăm sóc người già cô đơn, trẻ em mồ côi. Hộ đói nghèo được miễn giảm các khoản đóng góp xã hội do địa phương qui định để xây dựng cơ sở sản xuất, dịch vụ... được miễn giảm các khoản thuế như thuế nông nghiệp, thuế doanh thu.
* Chính sách lao động việc làm
Vấn đề việc làm luôn là vấn đề bức xúc trong mọi thời đại. Hiện nay nước ta có khoảng hơn 8 triệu người cần phải giải quyết việc làm nhất là trong tình trạng giá thị trường ngày càng có nhiều biến động và tăng cao như hiện nay. Theo Bộ Lao Động – Thương Binh và Xã hội các giải pháp để giải quyết việc làm trong thời gian tới:
·                    Phát triển kinh tế.
·                    Đẩy mạnh xuất khẩu lao động.
·                    Thực hiện các hoạt động hỗ trợ việc làm như:
·                    Chương trình trợ giá vốn và công nghệ. Phát triển các trung tâm dịch vụ giới thiệu việc làm, tổ chức điều tra, thu nhập thông tin về thị trường lao động.
·                    Giải quyết lao động dôi dư.
* Chính sách đối với người có công với cách mạng.
+ Đối với dân tộc thiểu số.
Do nhiều nguyên nhân khác nhau đòng bào dân tộc nhất là vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa đang gặp rất nhiều kho khăn . Nhà nước đã và đang tiếp tục thực hiện nhiều giải pháp để phát triển kinh tế xã hội miền núi như các chương trình chiến lược phát triển kinh tế miền núi, các chương trình xoá đói giảm nghèo ..v.v.
- Điều tiết giá cả, quan hệ cung cầu trên thị trường nhằm bảo đảm ổn định sản xuất và mức sống của những người có thu nhập thấp .
+ Với chính sách cho vay ưu đãi: Chúng ta phải có chính sách trợ giúp tín dụng cho vay vốn với điều kiện ưu đãi từng nguồn tín dụng của Ngân Hàng phục vụ người nghèo, quĩ xoá đói giảm nghèo, các chương trình xoá đói giảm nghèo.

33. Hạn chế của cơ chế thị trường?

Bản chất của một sự vật, hiện tượng luôn có tính hai mặt của nó. Theo tâm lí chung trong hoạt động quản lí và phát triển đời sống xã hội, nếu một sự vật, hiện tượng đem lại lợi ích lớn hơn nhiều so với hậu quả thì sẽ được ưu tiên lựa chọn. Tất nhiên đó là một quy luật khá phổ biến và cơ chế thị trường cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Xét ở một bình diện chung nhất, cơ chế thị trưòng vẫn tỏ ra có nhiều hạn chế. Trong đó đáng quan tâm những hạn chế như sau:
Thứ nhất, cơ chế thị trường tạo ra sự phân hoá giàu nghèo. Điều này là một thực tế tồn tai khá phổ biến ở hầu hết các nước. Theo quan niệm của một số học giả tư sản, có vẻ như họ cho rằng phân biệt giàu nghèo chính là động lực cho sự phát triển. Tuy nhiên, chúng ta phải phủ nhận điều đó, khi chúng ta đang trên con đường đi lên chủ nghỉa xã hội. Chúng ta biết rằng, hiện nay cơ chế thị trường đã không còn xa lạ nữa vì nó gắn liền với sự phát triển hằng ngày của mỗi người trong xã hội. Những doanh nghiệp làm ăn phát đạt sẽ trở nên giàu có và những người lao động vẫn cứ lao đông nghèo khó, khoảng cách giữa họ ngày một nâng lên về cả góc độ cá nhân lẫn vùng miền….
Thứ hai, cơ chế thị trường cũng có những hạn chế trong việc cạnh tranh không lành mạnh. Những doanh nghiệp quy mô nhỏ mói thành lập sẽ không thể cạnh tranh với một tập đoàn kinh tế lớn về quy mô và vốn. Vì vậy, sẽ dần sa sút và sẽ bị phá dản. Điều này có thể xuất phát từ những yếu tố khá nhau nhưng cũng cần nhấn mạnh tới sự cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp với nhau, khi có những thủ đoạn, những chieu thức nhằm lật đổ đối phương….Trước đây chúng ta vẫn quan niệm sai lầm rằng, phá sản danh nghiệp là tích cực. Nhưng hiện nay nó là tiêy cực vì để lại nhiều gánh năng như lao động, nguồn thu nhà nước từ thuế, sự độc quyền của những doanh nghiệp…vì vậy kinh tế khó phát triển hơn. Vì vậy, ở một góc độ nào đó chúng ta vẫn thữa nhận ơ chế thị trường tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh.
Ba là, tệ tham nhũng sẽ phát triển trong bộ máy quản lí nhà nước.
Bốn là, tệ nan xã hội ngày một gia tăng nhanh chóng về số lượng và để lại hậu quả nghiêm trọng. Hiện nay, cơ chế thị trường toạ ra sự hội nhập đa phưong vì thế sự du nhập của nhiều yếu tố văn hoá không phù hợp với thuần phong, mĩ tục của dân tộc trong đời sống xã hội. Những cái đó vô hình trung tạo sự tò mò trong moi tầng lớp xã hội, vì vậy mà đã có nhiều tệ nạn xã hội phức tạp khác hẳn với các thời kì trước đó.
Năm là, tạo nên môt hình ảnh không tốt về xã hội, tất cả sống vì tiền, đồng tiền nhiều khi là thước đo của các giá trì, chuẩn mực mà vốn dĩ nó không thể cân đo đong đếm bằng vật cất….

32. Tính tích cực của cơ chế thị trường.

Sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI (12/1986), Đảng ta đã đề ra đường lối phát triển cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước. Sự ra đời của cơ chế kinh tế này về thực chất khá mới mẻ với chúng ta (mặc dù nó không hề mới trong tu duy quản lí của các nứoc phương Tây). Chúng ta đã quen thuộc với cơ chế kinh tế tâo trung quan liêu bao cấp vì vậy chuyển đổi sang loại hình này vẫn tỏ ra một số e ngại trong xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn lịch sử đã chúng minh, loại hính kinh tế này đã tạo ra những bước ngoặt trong nền kinh tế, đưa đất nước ta ngày một đi lên, nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân.
Xét về mặt lí luận và thực tiễn, chúng ta nhận thấy cơ chế thị trường có những mặt tích cực sau đây:
Một là, Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Trước đó cơ chế quản lí quan liêu bao cấp cũng từng mang lại hiệu quả to lớn trong thời kì chíên tranh. Tuy nhiên chúng ta vẫn duy trì một thời gian dài sau hoà bình đã làm cho nền kinh tế trì trệ, chậm phát triển, đời sống nhân dân vô cùng khó khăn. Giải thích cho vấn đề này là vì, với cơ chế đó đã vô hình trung kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất. Nhưng cơ chế thị trường đã tháo gỡ được nhưng vướng mắc ấy, được tự do phát triển, nhà nước không can thiệp quá sâu vào hoạt động kinh tế. Nhiều thành phần kinh tế ra đời và tự do phát triển.
Hai là, Tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể, các thành phần kinh tế, không ngững cải tiến kĩ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. Sự cạnh tranh lành mạnh xét về mặt khách quan là nhà nước cho phép các cá nhân, tổ chức, các thành phần kinh tế bình đẳng với nhau trong việc phát triển miễn là chấp hành đúng pháp luật. Không có một rào cản ngăn cấm hay bênh vực cho chủ thể nào trong xã hội, sự cạnh tranh này suy đến cùng cũng sẽ tạo ra sự đào thải lẫn nhau để tồn tại và là động lực cho sự phát triẻn kinh tế. ĐIều này cũng giải thích vì sao các chủ thể muốn tồn tại phải không ngừng cải tiến kĩ thuật, máy móc thiết bị nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Nó khác hẳn với cơ chế cũ theo phương pháp mệnh lệnh hành chính, với cơ chế thị trường các chủ thể được tự do kinh doanh.
Ba là, Các doanh nghiệp tự chủ, năng động sáng tạo trong phát triển kinh tế. Thật vậy, cũng vì sự cạnh tranh lẫn nhau mà các doanh nghiệp, các chủ dự án kinh tế phải không ngừng vận động sáng tạo, điều đáng nói là, sự sáng tạo này không bị áp lực lớn như trong cơ chế cũ. Vì trong thời kì bao cấp, sáng tạo nhièu khi là đi ngược lại chủ trương dường lối của Đảng, là chống đối đảng trong hoạt đông kinh doanh và tất nhiên sẽ bị trừng phạt. Song trong co chế thị trường, rào cản ấy được xoá bỏ và các doanh nghiệp an tâm kinh doanh và khong ngừng sáng tạo.
Bốn  là, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho người dân. Thực tiễn đã chứng minh điều này qua hơn 20 năm chứng ta chuyển sang cơ chế thị trường. Nhân dân đã không còn phải lệ thuộc quá lớn vào sự cấp phát của nhà nước, tự phát triển và làm  kinh tế  riêng. …
Năm là, cơ chế thị trường sẽ là cơ hội để nước ta tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Nếu giữ mãi cơ chế bao cấp cũ, sẽ rất khó để chúng ta tham gia vào đời sống hội nhập kinh tế sâu rộng như hiện nay. Hiện tại, nứoc ta đã là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO và đang có cơ hội rất lớn để tham gia phát triển nền kinh tế đa phương mang lại những nguồn lợi để phát triển đất nước

31. Hạn chế của cơ chế hành chính tập trung bao cấp.

Thứ nhất, phương thức quản lí của nhà nước chư thực sự hợp lí. Nhà nước quản lí nền kinh tế chủ yếu bằng phương pháp mệnh lện áp đặt từ trên xuống dưới. Các doanh nghiệp hoạt dộng dự trên cơ sở các quyết định của nhà nước và chỉ tiêu pháp lệnh được giai. Tất cá phương thức sản xuất, nguồn nguyen liệu, vốn, vật tự, thiết bị…đều do cấp có thẩm quyền quyết định.
Thứ hai, cơ quan quản lí nhà nước can thiệp quá sâu và hoạt động sản xuát kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu một loại trách nhiệm vật chất ciũng như pháp lí trứoc quyết định của mình . Các doanh nghiệp không có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuât kinh doanh, cũng không bị ràng buộc vào kết quả hoạt động sản xuát kinh doanh, do đó khôbng tạo được sự chủ động, năng động, sáng tạo trong sản xuát kinh doanh của các doanh nghiệp.
Thứ ba, quan hệ hàng hoá, tiền tệ bị coi nhẹ, chỉ là hình thức quan hệ hiện vật chủ yếu . Nhà nước quản lí thông qua “cấp phát, giao nộp”.
Thứ tư, bộ máy quản lí nhà nước cồng kềnh, nhiều cấp trung gian, vừa kém năng động, vừa sinh ra đội ngũ quản lí kém năng lực, phong cách cửa quyền, quan liêu, tham nhũng nhưng lại hưởng quyền lợi cao hơn người lao đông.

30. Vì sao công nghiệp hóa gắn vs hiện đại hóa và công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn vs phát triển kinh tế tri thức?

Công nghiệp hóa hiện đại hóa là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao.Đại hội Đảng 10 xác định mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; tạo nền tảng để đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Tính tất yếu khách quan của CNH-HDH: do yêu cầu phải xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật XHCN, do yêu cầu phải rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, kỹ thuật, công nghệ nước ta với các nước trong khu vực và thế giới, do yêu cầu tạo ra năng suất lao động xã hội cao, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của CNXH.Chúng ta tiến hành CNH-HDH trong khi nền kinh tế tri thức đang phát triển.chúng ta có thể và cần thiết không phải trải qua các bước phát triển tuần tự từ kinh tế nông nghiệp lên kinh tế công nghiệp rồi mới phát triển kinh tế tri thức, Đó là lợi thế của các nước đi sau, không phải là nóng vội, duy ý chí. Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, phổ cập và sử dụng tri thức giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển kinh tế, tạo ra của cải, nâng cao chất lượng cuộc sống.Trong nền kinh tế tri thức, những ngành kinh tế có tác động to lớn tới sự phát triển là những ngành dựa nhiều vào tri thức, dựa vào các thành tựu mới của khoa học, công nghệ.Đó là những ngành kinh tế mới dựa trên công nghệ cao như công nghệ thông tin, công nghệ sinh hoạc và cả những ngành kinh tế truyền thống như nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ được ứng dụng khoa học công nghệ cao. Vì tầm quan trọng của kinh tế tri thức nên đại hội 10 đã nhận định: “khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất.”

29. Nội dung CN hóa XHCN do đại hội lần thứ VI xác định?

Đại hội VI của Đảng tháng 12/1986 với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật đã nghiêm khắc chỉ ra những sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kì trước. Đó là:
- Chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật, cải tạo xã hội chủ nghĩa và quản lý kinh tế…Do tư tưởng chỉ đạo chủ quan, nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa có đủ các tiền đề cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
- Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư, thường chỉ xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý, thiên về xây dựng công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn , không tập trung sức giải quyết về căn bản vấn đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp.
- Không thực hiện nghiêm chỉnh nghị quyết của Đại hội lần thứ V như: Nông nghiệp vẫn chưa thật sự coi là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.

28. Nội dung công nghiệp hóa do đại hội lần thứ V của Đảng xác định?

Đường lối công nghiệp hóa đất nước được hình thành từ Đại hội III của Đảng (9/1960). Từ thực tiễn chỉ đạo công nghiệp hóa 5 năm (1976-1981), Đảng rút ra kết luận: từ một nền sản xuất nhỏ đi lên, điều quan trọng là phải xác định đung bước đi của công nghiệp hóa cho phù hợp với mục tiêu và khả năng của mỗi chặng đường. Vì vậy, đại hội đảng V đã có sự điều chỉnh quan trọng về đường lối CNH ở nước ta:
-    Trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu
-    Việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng cần làm có mức độ, vừa sức nằm phục vụ có hiệu quả cho nông nghiệp và cong nghiệp nhẹ.
-               Phát  triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Đây được coi là nội dung chính của CNH ở nước ta chặng đường trước mắt. Đây là sự điều chỉnh rất đúng đắn bước đi CNH, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

27. Những điểm không đúng trong nội dung công nghiệp hóa do Đại hội lần thứ IV xác định?

Thứ nhất, đường lối công nghiệp hoá của Đảng trước thời kì đổi mới, đặc biệt là trọng đại hội IV đề ra thể hiện sự nóng vội, giản đơn, duy ý chí cử đảng về vấn đề công nghiệp hoá, muốn làm nhanh, làm lứon mà mà ít quan tâm tới hiệu quả kinh tế . Mặc dú đã có sự điwuf chỉnh tquan trọng về tốc độ , bước đi và nội dung chính nhưng về cơ bản và trên thực tế về cơ bản vẫn chư thoát khỏi nhận thức cũ.
Thứ hai, trong đường lối xây dựng công nghiệp hoá trong đại hội IV Đảng ta vẫn nhận thức và tiến hành theo kiểu cũ với đặc trưng chủ yếu là nền công nghiệp hoá theo hướng khép kín , hướng nội và thien về phát triển công ngiệp nặng , CNH chủ yếu dựa vào lưọi thế lao động, tài nguyên đất đai và nguòn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa , chủ lực thực hiện công nghiệp hoá là các doanh nghiệp nhà nước , việc phân bổ nguồn lực công nghiệp hoá được thực hiện thông qua cơ chế  tập trung quan liêu bao cấp, không tôn trọng quy luật của kinh tế thị trường nên khoông thành công.
          Bên cạnh đó, Đại hội vấp phải một số sai lầm khuyết điểm chủ yếu do tư tưởng chủ quan nóng vội, giáo điều thể hiện rõ nhất qua việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu quá cao, không tính đến khá năng thực hiện và điều kiện cụ thể của đất nước sau thống nhất. Sai lầm trong cả chủ trương cải tạo, quản lí kinh tế, thể hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ. Kinh tế Việt Nam mất cân đối lớn, kinh tế quốc doanh và tập thể luôn thua lỗ nặng, không phát huy tác dụng. Kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăm cấm triệt để. Sản xúât chậm phát triển, thu nhập quốc dân, năng súât thấp, đời sống nhân dân khó khăn, xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực.

25. Vì sao nói: mặc dù Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta nhưng so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay đổi lớn?

Đầu năm 1965 nhằm cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam. Tình hình đó buộc Đảng ta phải mở các hội nghị nhằm phân tích tình hình để đề ra các đường lối đấu tranh đúng đắn. Hội nghị trung ương lần thứ 11 và 12 đã tập trung đánh giá tình hình và đề ra đường lối kháng chiến trong cả nước. Trên cơ sở đó Đảng cũng nhận định “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta nhưng so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay đổi lớn”.
Vì sao Đảng lại có nhận định như vây? Đảng căn cứ vào 3 vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, căn cứ vào thế và lực của ta và địch trên chiến trường. Về phía ta, đang giành thế chủ động tấn công trên mọi mặt trận đã đánh tan chiến lược chiến tranh đặc biệt của kẻ thù, vì vậy tạo niềm tin và sức mạnh tinh thần rất lớn, đặc biệt chúng ta đang ở  thế tiến công. Ngược lại, quân địch rơi vào trạng thái hoang mang lo sợ, bị động do chúng ta đã chiến thắng trên chiến trường. Vì vậy, khi quân địch tăng cường quân viễn chinh mặc dù cũng là cuộc chiến tranh xâm  lược thực dân kiểu mới nhưng buộc phải thực thi trong thế thua, thế thất bại và thế bị động cho nên chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược.
Thứ hai, các lực lượng tiến bộ trên thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm  lược của Mỹ một cách gay gắt vì vậy chúng tăng cường quân viễn chinh cũng chỉ là hành vi uy hiếp tinh thần, chúng muốn chứng tỏ sức mạnh quân sự của mình nhưng thực chất bọc lộ sự nhu nhược và bất lực. Bởi lẽ, chúng đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa nhưng nhân dân ta đang tiến hành cuộc chién tranh chính nghĩa chông lại đế quốc để giành độc lập, tự do, vì vậy luôn được sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Chính điều này cũng phần nào tạo tâm lý lo ngại cho kẻ địch nhưng lại là nguồn lực tinh thần vô cùng to lớn cho chúng ta tiến công địch khi chúng tăng cường quân viễn chinh.
Thứ ba, xuát phát từ vị trì địa lí của miền Nam, đây là vùng đồng bằng nhưng lại có tính phức tạp, có nhièu vùng chiêm trũng rộng lớn…vì vậy khi quân thù tăng cường quân viễn chinh buộc phải dàn mỏng lực lượng để đối phó với quân đội ta (áp dụng lối đánh du kích). Do đó khi chúng rải quân cũng sẽ rơi vào bất lợi, lực lượng mỏng sẽ không thể phát huy sức mạnh quân đội và quân ta lại am hiểu địa hình địa vật ở đây nên chúng sẽ bất lợi khi chúng ta tiến công.
Thứ tư, trong quá trình chống chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mĩ, thế trận chiến tranh nhân dân đã hình thành, cách mạng miền Nam đã có sự phát triển về thế và lực. Cùng với lực lượng cách mạng miền Bắc, nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu lâu dài và trước mắt của địch
Thứ năm, Mĩ đưa quân vào miền Nam nhằm cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, cuộc chiến tranh này được đề ra trong thế thua, thế thất bại và bị động, cho nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược. Trong khi Mĩ phải rải rác quân trên toàn miền Nam để đối phó với từng địa phương, thì cách mạng miền Nam giữ vững thế tiến công, sẽ đánh bại chiến tranh cục bộ trong thời gian ngắn nhất. Mĩ vì thế không thể nào cứu vãn được tình thế nguy khốn, bế tắc của chúng ở miền Nam.
Đánh giá
Tất cả những vấn đề trên Đảng ta đã phân tích và nghiên cứu rất kĩ, tưởng chùng như rất đơn giản nhưng lại hợp lí xét cả về yếu tố tinh thần và yếu tố vật chât. Cũng phải nhạn thấy một vấn đề là, nhận định trên của Đảng không phải là sự chủ quan, khinh địch, nóng vội mà rất khoa học, thể hiện tư duy nhạy bén về quân sự và thế tiến công. Chính những nhận định này đã vừa giúp Đảng ta đề ra được những đường lối đấu tranh đúng đắn, vừa tạo niềm tin cho quân và dân trước kế hoạch mới của quân thù. Và thực tế chúng ta đã đánh tan chiến lược chiến tranh cục bộ và dần dần giành được những thắng lợi vẻ vang trước quân thù hùng mạnh nhất thế kỉ 20.

Điều kiện để cách mạng miền Nam khởi nghĩa vũ trang?

Thứ nhất, vì Ban chấp hành trung ương Đảng đã có sự nhìn nhận về chủ trương kháng chiến của Đảng ta  trước đó. Khi đế quốc Mỹ tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị lên miền Nam, Đảng ta đã đề ra chủ trương đấu tranh về chính trị là chủ yếu, nhưng thực tế với một kẻ thù hùng mạnh và xảo quyệt chúng ta không thể giành thắng lợi và vì thế các cuộc chống đối của chúng ta luôn bị đàn áp một cách dã man.
Thứ hai, xuất phát từ kẻ thù. Chúng tiến hành cuộc chiến tranh vũ trang bạo lực trên quy mô rọng lớn và vô cùng tàn ác. Chính quyền tay sai cũng cho thấy sự man rợ của mình khi cùng quân đội Mỹ lê máy chiếm khắp chiến trường miền Nam, đã sát hại biết bao nhiêu người dân vô tội và cả những chiến sĩ cách mạng. Thực tiễn lịch sử lúc này đặt ra là địch đánh ta bảng sức mạnh vũ trang thì chúng ta cũng phải đáu tranh thì mới có khả năng  giành chiến thắng. Đó là một thực tế buộc ban chấp hành trung ương đảng lần thứ hai nhận định và quyết định chủ trương đấu tranh vũ trang.
Thứ ba, xuất phát từ tư tưởng, tinh thần đấu tranh kiên cường và quyết tâm của nhân dân miền Nam. Với chính sách cai trị độc đoán và tàn bạo của đế quốc Mỹ, nhân dân miền Nam đã căm giạn sục sôi và luôn muốn vùng dậy đấu tranh bất cứ lúc nào. Vì vạy, đây chính là nguồn lực tư tưởng to lớn cho chúng ta khi ban thường vụ trung ương đảng đề ra đấu tranh vũ trang chắc chắn sẽ được nhân dân nơi đây hưởng ứng nhiựt tình.
Thứ tư, Xuất phát từ vị trì địa lí của miền Nam có rất nhiều thuận lợi có thể giúp ban thường vụ trung ương đảng đề  ra chủ trương đáu tranh vũ trang. Đây là vùng đồng bằng rộng lớn, có nhiều vùng chiêm trũng vì vậy khi địch dùng chinhs sách càn quét sẽ không thể tiến hành triệt để, có thể chúng không thông thuộc địa hình như nhân dân miền Nma…vì vậy, với lối đánh du kích và khi cần tiến hành trên dịên rọng có thể gây tổn thất sinh lực địch, vì vậy chủ trương đấu tranh vũ trang là hợp lí.
Thứ năm, xuất phát từ chủ trương của đảng về chính sách cán bộ của Đảng, được thể hiện qua 3 chính sách:cs giữ lại một số cán bộ ở miền nam khi thực hiện hiệp định Giơnevơ, luân chuyển cán bộ, công tác tình báo.
Như vậy, từ những vấn đề nêu trên là điều kiện cơ bản và quan trọng giúp Đảng chủ trương khởi ngiã vũ trang ở cách mạng miền Nam lúc này. Đó không chỉ là sự chỉ đạo đúng đắn mà còn thể hiện sự nhạy bén về lãnh đạo cách mạng của Đảng. Tất cả những vấn đề nêu trên là cơ sở quan trọng giúp cách mạng miền Nam có sự chủ đọng và sẵn sàng nổi dậy bất cứ lúc nào.

Việt Nam là tiêu điểm của những mâu thuẫn thời đại?

Sở dĩ Đảng khẳng định như vậy là bởi vì, căn cứ vào bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Việt Nam tập trung 4 mâu thuẫn lớn của thời đại. Đó là:
·                    Mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc với chủ nghĩa đế quốc.
·                    Mâu thuẫn giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa.
·                    Mâu thuẫn giữa hai giai cấp: giai cấp vô sản với giai cấp tư sản.
·                    Mâu thuẫn giữa vấn đề hoà bình với vấn đề chiến tranh.
Việc giải quyêt mâu thuẫn của Việt Nam cũng chính là nhằm giải quyết những mâu thuẫn của thời đại của thế giơí sau 1954 đều chung một mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ, thống nhất hoà bình và tiến bộ xã hội. Vì vậy nó mang tính chất thời đại và tính quốc tế sâu sắc. Những tiêu điểm mâu thuẫn lớn của thời đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lúc này tại Việt Nam cũng chính là mâu thuẫn gay gắt giũa hai hệ thống xã hội, một bên là hệ thống xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là liên xô và hệ thống tư bản chủ nghĩa mà đứng đầu là Mỹ. 

Kháng chiến toàn diện là gì? Vì sao phải kháng chiến toàn diện?

Kháng chiến toàn diện là kháng chiến về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá – giáo dục, ngoại giao…
Phải kháng chiến toàn diện vì:
·                    Xuất phát từ thực dân Pháp, chúng đánh ta trên tất cả các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, tư tưởng…. tương quan lực lượng không cân, vì vậy chúng ta cũng phải đánh địch trên tất cả các mặt thì mới tạo nên chiến thắng toàn diện, phát huy mọi sức mạnh tiềm năng của đất nước và buộc chúng phải khuất phục.
·                    Xuất phát từ nhiệm vụ kiến quốc cũng được tiến hành một cách toàn diện vì vậy khi tiến hành kháng chiến chúng ta cũng phải đánh địch toàn diện nhằm phát huy được sức mạnh nội lực của chính mình.
·                    Chống lại âm mưu chiến tranh toàn diện và lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của bọn thực dân Pháp
·                    Kháng chíên toàn diện là điều kiện để thực hiện kháng chiến toàn dân vì sẽ phát huy được sức mạnh toàn dân.
Như vậy, Chúng ta phải xây dựng và sử dụng sức mạnh toàn diện về chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội chống lại cuộc chiến tranh tổng lực của kẻ thù. Để thực hiện mục đích chính trị của cuộc kháng chiến phải đẩy mạnh mặt trận quân sự, nhằm tiêu diệt lực lượng địch, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng nhằm dành lại toàn bộ đất nước.