8 tháng 5, 2011

28. Nội dung công nghiệp hóa do đại hội lần thứ V của Đảng xác định?

Đường lối công nghiệp hóa đất nước được hình thành từ Đại hội III của Đảng (9/1960). Từ thực tiễn chỉ đạo công nghiệp hóa 5 năm (1976-1981), Đảng rút ra kết luận: từ một nền sản xuất nhỏ đi lên, điều quan trọng là phải xác định đung bước đi của công nghiệp hóa cho phù hợp với mục tiêu và khả năng của mỗi chặng đường. Vì vậy, đại hội đảng V đã có sự điều chỉnh quan trọng về đường lối CNH ở nước ta:
-    Trong chặng đường đầu tiên của thời kì quá độ phải lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu
-    Việc xây dựng và phát triển công nghiệp nặng cần làm có mức độ, vừa sức nằm phục vụ có hiệu quả cho nông nghiệp và cong nghiệp nhẹ.
-               Phát  triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng.
Đây được coi là nội dung chính của CNH ở nước ta chặng đường trước mắt. Đây là sự điều chỉnh rất đúng đắn bước đi CNH, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.

27. Những điểm không đúng trong nội dung công nghiệp hóa do Đại hội lần thứ IV xác định?

Thứ nhất, đường lối công nghiệp hoá của Đảng trước thời kì đổi mới, đặc biệt là trọng đại hội IV đề ra thể hiện sự nóng vội, giản đơn, duy ý chí cử đảng về vấn đề công nghiệp hoá, muốn làm nhanh, làm lứon mà mà ít quan tâm tới hiệu quả kinh tế . Mặc dú đã có sự điwuf chỉnh tquan trọng về tốc độ , bước đi và nội dung chính nhưng về cơ bản và trên thực tế về cơ bản vẫn chư thoát khỏi nhận thức cũ.
Thứ hai, trong đường lối xây dựng công nghiệp hoá trong đại hội IV Đảng ta vẫn nhận thức và tiến hành theo kiểu cũ với đặc trưng chủ yếu là nền công nghiệp hoá theo hướng khép kín , hướng nội và thien về phát triển công ngiệp nặng , CNH chủ yếu dựa vào lưọi thế lao động, tài nguyên đất đai và nguòn viện trợ của các nước xã hội chủ nghĩa , chủ lực thực hiện công nghiệp hoá là các doanh nghiệp nhà nước , việc phân bổ nguồn lực công nghiệp hoá được thực hiện thông qua cơ chế  tập trung quan liêu bao cấp, không tôn trọng quy luật của kinh tế thị trường nên khoông thành công.
          Bên cạnh đó, Đại hội vấp phải một số sai lầm khuyết điểm chủ yếu do tư tưởng chủ quan nóng vội, giáo điều thể hiện rõ nhất qua việc đề ra phương châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, đề ra các mục tiêu, chỉ tiêu quá cao, không tính đến khá năng thực hiện và điều kiện cụ thể của đất nước sau thống nhất. Sai lầm trong cả chủ trương cải tạo, quản lí kinh tế, thể hiện tư tưởng bảo thủ, trì trệ. Kinh tế Việt Nam mất cân đối lớn, kinh tế quốc doanh và tập thể luôn thua lỗ nặng, không phát huy tác dụng. Kinh tế tư nhân và cá thể bị ngăm cấm triệt để. Sản xúât chậm phát triển, thu nhập quốc dân, năng súât thấp, đời sống nhân dân khó khăn, xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực.

25. Vì sao nói: mặc dù Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta nhưng so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay đổi lớn?

Đầu năm 1965 nhằm cứu vãn nguy cơ sụp đổ của chế độ Sài Gòn và sự phá sản của chiến lược “chiến tranh đặc biệt”, đế quốc Mỹ đã mở cuộc “chiến tranh cục bộ” ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và quân chư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam. Tình hình đó buộc Đảng ta phải mở các hội nghị nhằm phân tích tình hình để đề ra các đường lối đấu tranh đúng đắn. Hội nghị trung ương lần thứ 11 và 12 đã tập trung đánh giá tình hình và đề ra đường lối kháng chiến trong cả nước. Trên cơ sở đó Đảng cũng nhận định “Mặc dù đế quốc Mỹ đưa hàng chục vạn quân viễn chinh vào miền Nam nước ta nhưng so sánh tương quan lực lượng giữa ta và địch không có sự thay đổi lớn”.
Vì sao Đảng lại có nhận định như vây? Đảng căn cứ vào 3 vấn đề cơ bản:
Thứ nhất, căn cứ vào thế và lực của ta và địch trên chiến trường. Về phía ta, đang giành thế chủ động tấn công trên mọi mặt trận đã đánh tan chiến lược chiến tranh đặc biệt của kẻ thù, vì vậy tạo niềm tin và sức mạnh tinh thần rất lớn, đặc biệt chúng ta đang ở  thế tiến công. Ngược lại, quân địch rơi vào trạng thái hoang mang lo sợ, bị động do chúng ta đã chiến thắng trên chiến trường. Vì vậy, khi quân địch tăng cường quân viễn chinh mặc dù cũng là cuộc chiến tranh xâm  lược thực dân kiểu mới nhưng buộc phải thực thi trong thế thua, thế thất bại và thế bị động cho nên chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược.
Thứ hai, các lực lượng tiến bộ trên thế giới phản đối cuộc chiến tranh xâm  lược của Mỹ một cách gay gắt vì vậy chúng tăng cường quân viễn chinh cũng chỉ là hành vi uy hiếp tinh thần, chúng muốn chứng tỏ sức mạnh quân sự của mình nhưng thực chất bọc lộ sự nhu nhược và bất lực. Bởi lẽ, chúng đang tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa nhưng nhân dân ta đang tiến hành cuộc chién tranh chính nghĩa chông lại đế quốc để giành độc lập, tự do, vì vậy luôn được sự ủng hộ của nhân dân thế giới. Chính điều này cũng phần nào tạo tâm lý lo ngại cho kẻ địch nhưng lại là nguồn lực tinh thần vô cùng to lớn cho chúng ta tiến công địch khi chúng tăng cường quân viễn chinh.
Thứ ba, xuát phát từ vị trì địa lí của miền Nam, đây là vùng đồng bằng nhưng lại có tính phức tạp, có nhièu vùng chiêm trũng rộng lớn…vì vậy khi quân thù tăng cường quân viễn chinh buộc phải dàn mỏng lực lượng để đối phó với quân đội ta (áp dụng lối đánh du kích). Do đó khi chúng rải quân cũng sẽ rơi vào bất lợi, lực lượng mỏng sẽ không thể phát huy sức mạnh quân đội và quân ta lại am hiểu địa hình địa vật ở đây nên chúng sẽ bất lợi khi chúng ta tiến công.
Thứ tư, trong quá trình chống chiến tranh đặc biệt của đế quốc Mĩ, thế trận chiến tranh nhân dân đã hình thành, cách mạng miền Nam đã có sự phát triển về thế và lực. Cùng với lực lượng cách mạng miền Bắc, nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững thế chủ động chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu lâu dài và trước mắt của địch
Thứ năm, Mĩ đưa quân vào miền Nam nhằm cứu vãn sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, cuộc chiến tranh này được đề ra trong thế thua, thế thất bại và bị động, cho nên nó chứa đựng đầy mâu thuẫn về chiến lược. Trong khi Mĩ phải rải rác quân trên toàn miền Nam để đối phó với từng địa phương, thì cách mạng miền Nam giữ vững thế tiến công, sẽ đánh bại chiến tranh cục bộ trong thời gian ngắn nhất. Mĩ vì thế không thể nào cứu vãn được tình thế nguy khốn, bế tắc của chúng ở miền Nam.
Đánh giá
Tất cả những vấn đề trên Đảng ta đã phân tích và nghiên cứu rất kĩ, tưởng chùng như rất đơn giản nhưng lại hợp lí xét cả về yếu tố tinh thần và yếu tố vật chât. Cũng phải nhạn thấy một vấn đề là, nhận định trên của Đảng không phải là sự chủ quan, khinh địch, nóng vội mà rất khoa học, thể hiện tư duy nhạy bén về quân sự và thế tiến công. Chính những nhận định này đã vừa giúp Đảng ta đề ra được những đường lối đấu tranh đúng đắn, vừa tạo niềm tin cho quân và dân trước kế hoạch mới của quân thù. Và thực tế chúng ta đã đánh tan chiến lược chiến tranh cục bộ và dần dần giành được những thắng lợi vẻ vang trước quân thù hùng mạnh nhất thế kỉ 20.

Điều kiện để cách mạng miền Nam khởi nghĩa vũ trang?

Thứ nhất, vì Ban chấp hành trung ương Đảng đã có sự nhìn nhận về chủ trương kháng chiến của Đảng ta  trước đó. Khi đế quốc Mỹ tiến hành xâm lược và đặt ách thống trị lên miền Nam, Đảng ta đã đề ra chủ trương đấu tranh về chính trị là chủ yếu, nhưng thực tế với một kẻ thù hùng mạnh và xảo quyệt chúng ta không thể giành thắng lợi và vì thế các cuộc chống đối của chúng ta luôn bị đàn áp một cách dã man.
Thứ hai, xuất phát từ kẻ thù. Chúng tiến hành cuộc chiến tranh vũ trang bạo lực trên quy mô rọng lớn và vô cùng tàn ác. Chính quyền tay sai cũng cho thấy sự man rợ của mình khi cùng quân đội Mỹ lê máy chiếm khắp chiến trường miền Nam, đã sát hại biết bao nhiêu người dân vô tội và cả những chiến sĩ cách mạng. Thực tiễn lịch sử lúc này đặt ra là địch đánh ta bảng sức mạnh vũ trang thì chúng ta cũng phải đáu tranh thì mới có khả năng  giành chiến thắng. Đó là một thực tế buộc ban chấp hành trung ương đảng lần thứ hai nhận định và quyết định chủ trương đấu tranh vũ trang.
Thứ ba, xuất phát từ tư tưởng, tinh thần đấu tranh kiên cường và quyết tâm của nhân dân miền Nam. Với chính sách cai trị độc đoán và tàn bạo của đế quốc Mỹ, nhân dân miền Nam đã căm giạn sục sôi và luôn muốn vùng dậy đấu tranh bất cứ lúc nào. Vì vạy, đây chính là nguồn lực tư tưởng to lớn cho chúng ta khi ban thường vụ trung ương đảng đề ra đấu tranh vũ trang chắc chắn sẽ được nhân dân nơi đây hưởng ứng nhiựt tình.
Thứ tư, Xuất phát từ vị trì địa lí của miền Nam có rất nhiều thuận lợi có thể giúp ban thường vụ trung ương đảng đề  ra chủ trương đáu tranh vũ trang. Đây là vùng đồng bằng rộng lớn, có nhiều vùng chiêm trũng vì vậy khi địch dùng chinhs sách càn quét sẽ không thể tiến hành triệt để, có thể chúng không thông thuộc địa hình như nhân dân miền Nma…vì vậy, với lối đánh du kích và khi cần tiến hành trên dịên rọng có thể gây tổn thất sinh lực địch, vì vậy chủ trương đấu tranh vũ trang là hợp lí.
Thứ năm, xuất phát từ chủ trương của đảng về chính sách cán bộ của Đảng, được thể hiện qua 3 chính sách:cs giữ lại một số cán bộ ở miền nam khi thực hiện hiệp định Giơnevơ, luân chuyển cán bộ, công tác tình báo.
Như vậy, từ những vấn đề nêu trên là điều kiện cơ bản và quan trọng giúp Đảng chủ trương khởi ngiã vũ trang ở cách mạng miền Nam lúc này. Đó không chỉ là sự chỉ đạo đúng đắn mà còn thể hiện sự nhạy bén về lãnh đạo cách mạng của Đảng. Tất cả những vấn đề nêu trên là cơ sở quan trọng giúp cách mạng miền Nam có sự chủ đọng và sẵn sàng nổi dậy bất cứ lúc nào.

Việt Nam là tiêu điểm của những mâu thuẫn thời đại?

Sở dĩ Đảng khẳng định như vậy là bởi vì, căn cứ vào bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ, Việt Nam tập trung 4 mâu thuẫn lớn của thời đại. Đó là:
·                    Mâu thuẫn giữa phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc với chủ nghĩa đế quốc.
·                    Mâu thuẫn giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa và đế quốc chủ nghĩa.
·                    Mâu thuẫn giữa hai giai cấp: giai cấp vô sản với giai cấp tư sản.
·                    Mâu thuẫn giữa vấn đề hoà bình với vấn đề chiến tranh.
Việc giải quyêt mâu thuẫn của Việt Nam cũng chính là nhằm giải quyết những mâu thuẫn của thời đại của thế giơí sau 1954 đều chung một mục tiêu độc lập dân tộc, dân chủ, thống nhất hoà bình và tiến bộ xã hội. Vì vậy nó mang tính chất thời đại và tính quốc tế sâu sắc. Những tiêu điểm mâu thuẫn lớn của thời đại trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lúc này tại Việt Nam cũng chính là mâu thuẫn gay gắt giũa hai hệ thống xã hội, một bên là hệ thống xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là liên xô và hệ thống tư bản chủ nghĩa mà đứng đầu là Mỹ. 

Kháng chiến toàn diện là gì? Vì sao phải kháng chiến toàn diện?

Kháng chiến toàn diện là kháng chiến về mọi mặt: quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá – giáo dục, ngoại giao…
Phải kháng chiến toàn diện vì:
·                    Xuất phát từ thực dân Pháp, chúng đánh ta trên tất cả các mặt: chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, tư tưởng…. tương quan lực lượng không cân, vì vậy chúng ta cũng phải đánh địch trên tất cả các mặt thì mới tạo nên chiến thắng toàn diện, phát huy mọi sức mạnh tiềm năng của đất nước và buộc chúng phải khuất phục.
·                    Xuất phát từ nhiệm vụ kiến quốc cũng được tiến hành một cách toàn diện vì vậy khi tiến hành kháng chiến chúng ta cũng phải đánh địch toàn diện nhằm phát huy được sức mạnh nội lực của chính mình.
·                    Chống lại âm mưu chiến tranh toàn diện và lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của bọn thực dân Pháp
·                    Kháng chíên toàn diện là điều kiện để thực hiện kháng chiến toàn dân vì sẽ phát huy được sức mạnh toàn dân.
Như vậy, Chúng ta phải xây dựng và sử dụng sức mạnh toàn diện về chính trị, quân sự, văn hoá, xã hội chống lại cuộc chiến tranh tổng lực của kẻ thù. Để thực hiện mục đích chính trị của cuộc kháng chiến phải đẩy mạnh mặt trận quân sự, nhằm tiêu diệt lực lượng địch, đè bẹp ý chí xâm lược của chúng nhằm dành lại toàn bộ đất nước.

Kháng chiến toàn dân là gì? Vì sao phải kháng chiến toàn dân?

- Chủ trương này ra đời trong bối cảnh nào.
Ngày 10-6-1946 Ban thường vụ Trung ương đảng đã mở Hội Nghị quân sự toàn quốc lần thứ nhất do tổng bí thư Trường Chinh chủ trì. đường lối kháng chiến của đảng được hoàn thiện tập trung trong 3 văn kiện lứon được soạn thảo và công bố sát trước và sau ngày cuộc kháng chiến toàn  quốc bùng nổ. Đó là các văn kiện Toàn dân kháng chiến của Trung ương Đảng, Lời kêu gọi toàn quốc kháng  chiến của Hồ Chí Minh và kháng chiến nhất định thắng lợi của đồng chí Trường Chinh. Trong đó nêu rõ phương châm kháng chiến: chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, lâu dài, dự và dựa mình là chính.
Kháng chiến toàn dân là cuộc kháng chiến phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, toàn dân cúng đứng lên kháng chiến, đánh giặc theo khẩu hiệu: mỗi người dân là một chiến sĩ, mỗi làng xã là một pháo đài.
Phải kháng chiến toàn dân vì:
·                    Xuất phát từ lí luận Mác- Lê Nin về vai trò quần chúng trong lịch sử nói chung, lịch sử đấu tranh nói riêng. Theo lí luận chủ nghĩa Mác Lê Nin, quần chúng là động lực phát triển của cách mạng, muốn giành thắng lợi phải có đông đảo quần chúng tham gia, đo đó phải động viên toàn dân kháng chiến.
·                    Xuất phát từ truyền thống đoàn kết đấu tranh của dân tộc ta qua các thời kì lịch sử. Dân tộc ta vốn có truyền thống yêu nước và đấu tranh bất khuất. Mặt khác, cách mạng là sự nghiệp của toàn dân, có phát huy sức mạnh toàn dân thì chúng ta mới có thể đánh địch toàn diện và lâu dài.
·                    Xuất phát từ tương quan lực lượng giữa ta và thực dân Pháp lúc này quá chênh lệch. Nhân dân ta vừa giành được độc lập từ ta kẻ thù, đang đứng trước muôn vàn khó khăn thử thách, trong đó có 3 thứ giặc phải đối phó: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Còn quân thù thì không ngừng tăng cường lực lượng bao vây nhằm chống phá cách mạng. Vì vậy, muốn giành thắng lợi chúng ta nhất thiết phải kháng chiến toàn dân, phát huy sức mạnh toàn dân thì mới có khả năng đánh tan thực dân Pháp xâm lược.
·                    Xuất phát từ lợi ích của mối người dân, vai trò bổn phận của một người dân với đất nước. Thực dân pháp đánh vào mọi người dân, cho nên mọi người dân phải đứng lên chống pháp, chỉ có hợp sức lại đánh tan quân thù thì tất cả sẽ được độc lập và tự do.
·                    Ta chủ trương kháng chiến toàn diện, lâu dài, nên phải kháng chiến toàn dân để mọi người dân đều được đóng góp khả năng của mình vào sự nghiệp chung của cả nước.